| Thẩm mỹ tạo hình mí mắt |
I. MỤC ĐÍCH:![]() Đối với người Việt Nam, giải phẩu thẩm mỹ tạo hình mí mắt từ lâu đã là kỹ thuật phổ biến quen thuộc với mục đích cải tạo mắt 1 mí thành 2 mí, hoặc cắt bỏ bớt mỡ và da dư ở mí trên và mí dưới (thường là ở người lớn tuổi).
Về phương diện nhân chủng học, người Việt Nam thuộc chủng người Mangoloid, thường gặp người có cặp mắt 1 mí. Ở Trung Quốc và Nhật tỷ lệ người có mắt 1 mí là 80-90%. Ở Việt Nam tỷ lệ này ít hơn, khoảng 30% phụ nữ mắt 1 mí. Nói chính xác hơn đó là những người có cặp mắt không phải 2 mí (có thể là 1 mí, mí lót hoặc là nhiều hơn 1 mí nhưng không rõ ràng 2 hoặc 3 mí hoặc có nhiều nếp da không rõ mí). Người Việt Nam, nhất là người phụ nữ thường có khuynh hướng muốn có cặp mắt 2 mí.
Ở những người bẩm sinh có cặp mắt 2 mí bình thường, tuổi tác lớn, lớp da mi mắt kém đàn hồi trở nên sa xệ và dư thừa tạo nhiều nếp nhăn xấu. Mí mắt xệ là lớp mỡ ở mí mắt tích tụ dày lên ở cả mí trên và mí dưới, vừa làm mất thẩm mỹ vừa ảnh hưởng đến tầm nhìn, làm giảm thị lực của mắt.
Đôi khi những người trẻ tuổi vẫn có hiện tượng mí mắt bụp (mí mắt dày và nặng) do đặc điểm riêng của cơ thể, có do bẩm sinh làm mắt kém đẹp. Nguyên nhân có thể là do các túi mỡ dày hoặc do lớp cơ vòng mi mắt quá phát triển.
Tất cả những điều bất thường đó của mắt sẽ được giải quyết bằng kỹ thuật giải phẩu thẩm mỹ, vừa để bảo vệ chức năng thị giác của mắt vừa để trả lại cho cặp mắt vẻ đẹp thẩm mỹ, xứng đáng là cửa sổ tâm hồn.
Như vậy, mục đích của giải phẩu thẩm mỹ tạo hình mắt là: 1. Tạo cặp mắt 2 mí (ở những người có cặp mắt không phải 2 mí). 2. Tái tạo lại mí mắt ở người có cặp mắt hai mí nhưng bị bụp mí, dư mỡ, xệ da mi. 3. Lấy bỏ túi mỡ, cắt bỏ da dư, làm mất các nếp nhăn (ở mí trên và mí dưới). Khi có quầng thâm ở da quanh ổ mắt, nhất là mí dưới, phải kết hợp với kỹ thuật săn sóc da tại chỗ để cải thiện tình trang da cả về màu sắc lẫn chất lượng.
II. CHỈ ĐỊNH: 1. Mắt 1 mí (mà có nhu cầu làm thành 2 mí)
2. Mắt có 2 mí rõ ràng, có thêm nếp xếp da thừa làm xấu mắt
3. Mi mắt trên dày, bụp, dư mỡ
4. Mi trên dư da, xệ da
5. Mi dưới có túi mỡ
6. Mi dưới dư da, có nhiều nếp nhăn
Chống chỉ định tương đối: Ở người có hố mắt trũng sâu hoặc nhãn cầu có xu hướng lồi nhiều sẽ khó có mí đẹp sau giải phẫu. Chống chỉ định tuyệt đối: Người bị mắt 1 mí hay sụp mí do liệt cơ nâng mi. Trường hợp này cần làm giải phẫu tái tạo nâng cơ mí
III. CHUẨN BỊ GIẢI PHẪU
Nhận định tình trạng mi mắt hiện tại trên cơ sở dáng vẻ chung của gương mặt và nhất là đôi mắt.
Đánh giá chính xác nguyên nhân và mức độ của mi mắt hiện tại (mức độ dư mỡ, dư da).
Làm tác động thử lên mi mắt để đánh giá chuẩn xác mức độ và lựa chọn giải pháp kỹ thuật thích đáng.
Lựa chọn đường rách da tạo nếp mi tốt nhất. Có thể tạo theo đường nếp mí cũ hoặc vẽ đường rạch mới tuỳ tình trạng hiện tại của da mi mắt. Chú ý khoảng cách từ bờ mi tới đường rạch và độ cong của đường rạch vì đây là đường xếp mi sau này. Bình thường đỉnh của đường nếp cách bờ mi 5-8mm.
Chú ý: Phải đánh giá đúng và hình dung được mí mắt sau khi mổ sẽ như thế nào để có được mí mắt hài hoà với đôi mắt và toàn gương mặt, hài hoà với lứa tuổi để giữ được vẻ nhiên.
Bác sĩ phẫu thuật phải tính toán chính xác đường rạch và da dư cần cắt bỏ, sau đó vẽ lại rõ ràng, chính xác trước khi tiến hành giải phẫu.
IV. KỸ THUẬT:1. Gây tê tại chỗ mí mắt.
2. Đường rạch da phải chính xác theo đường vẽ trước. Bác sĩ phẫu thuật cần phải có kỹ năng tốt để rạch da chính xác, đều tay (có độ sâu đều từng lớp, liền lạc, liên tục, không nhát gừng). Với mi trên: đường rạch da cần tinh tế vì da mi mắt trên chỉ dày 2mm (là nơi da mỏng nhất của cơ thể).
Sau đó lấy bỏ bớt dải tổ chức dưới da, lấy bớt dải cơ vòng mi, bộc lộ các túi mỡ và lấy bớt mỡ dư. Xác định chính xác các túi mỡ. Khi lấy mỡ cần chính xác hợp lý với từng khuôn mặt, không quá ít hay quá nhiều, để sau khi lành có ổ mắt đẹp tự nhiên không bị biến dạng xấu. Tiếp theo cắt dải da dư theo hình vẽ. Khâu vết mổ lại theo thứ tự: khâu phục hồi vách túi mỡ, sau đó khâu da mi vào với cân trước của bờ sụn mi để tạo nếp mi (trong trường hợp làm mắt 2 mí). Có thể chỉ cần khâu mép da với nhau như thông thường trong trường hợp mắt đã có 2 mí.
Với mi dưới: đường rạch sát bờ sụn mi, bóc tách da, bộc lộ túi mỡ và lấy bớt mỡ dư, đo cắt da dư, sau đó may 2 mép da lại.
3. Khâu đường cắt mi mắt có thể là khâu mối rời, khâu vắt hay khâu luồn chỉ tùy theo trường hợp và tuỳ theo phẩu thuật viên.
4. Đính mí mắt: đây là kỹ thuật làm mắt 2 mí bằng cách luồn chỉ để khâu đính tổ chức dưới da của mi mắt trên vào sụn mi mà không có đường rạch da ở mí mắt như cách cắt mí thông thường. Kỹ thuật này áp dụng cho người trẻ chưa có da dư ở mí mắt, hoặc có thể áp dụng cho người có mí mắt sụp mà da dư ít chưa cần làm giải phẩu cắt bớt da. 5. Trường hợp mi mắt dưới có túi mỡ dư mà da chưa dư đến mức phải cắt bỏ thì có thể thực hiện lấy bớt mỡ qua đường kết mạc (phía trong mi mắt), tránh được vết sẹo cắt da ở phía ngoài mí dưới. V. SĂN SÓC SAU MỔ:- Có thể băng hay không băng vết mổ.
- Cắt chỉ sau 5 – 7 ngày.
- Thường có sưng nhẹ và hết trong 3-5 ngày.
- Có thể có vết bầm quanh mắt và hết dần sau 1 tuần.
- Nhỏ thuốc đau mắt để rửa mắt và tránh viêm nhiễm.
- Đường sẹo vết cắt sẽ mờ dần, sau 2-3 tháng thì hầu như không thấy dấu vết của phẫu thuật.
VI. NHỮNG BIẾN CHỨNG CÓ THỂ GẶP: ![]() 1) Rụng lông mi: Trong lú c phẫu thuật, nhất là với mí mắt dưới, có thể một số lông mi bị cắt đứt hoặc bị rụng. Sau một thời gian lông mi sẽ mọc lại bình thường.
2) Nhiễm trùng: Với giải phẫu mi mắt thì hiện tượng nhiễm trùng hậu phẫu cũng rất hiếm gặp, tuy nhiên cũng phải chú ý đảm bảo mọi nguyên tắc chuyên môn để không xảy ra nhiễm trùng và tránh những nguy cơ có thể ảnh hưởng có hại cho mắt. 3) Sưng bầm: Sau khi giải phẫu thường có sưng nhẹ, có thể có bầm tím da vùng mắt. Hiện tượng sưng giảm dần và hết sau 3-5 ngày. Vết bầm nếu có sẽ hết hẳn sau 1 tháng. 4) Mắt nhắm không kín: Có các trường hợp sau: Nếu sau phẫu thuật mắt hở như sợi chỉ và nhắm bình thường sau 1-2 tuần thì sau khi lành mắt sẽ căng da rất đẹp. Nếu sau phẫu thuật mà mắt nhắm kín ngay thì khi lành da mắt vẫn còn dư nhẹ, chưa thật hoàn hảo.
Nếu sau khi cắt thấy mắt hở nhiều khi nhắm thậm chí đến 2-3 tháng vẫn không nhắm kín được mắt (Lagophthalmos) hoặc sau khi cắt mí dưới mà mí mắt trễ xuống, có thể gần như lật ra ngoài và mắt không nhắm được (Ectropion), thì đòi hỏi phải can thiệp giải quyết để tránh những biến chứng nặng cho mắt sau này. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do cắt bỏ quá nhiều tổ chức căn cơ và mỡ ở mí mắt hoặc do cắt bỏ da mí quá mức cần thiết.
Phương pháp giải quyết là phải giải phẫu để ghép vạt da rời bù vào chổ da thiếu hụt, để mắt kín được. Nếu cuộc giải phẩu chưa kết thúc mà phát hiện thấy có thể bị hiện tượng mắt nhắm không kín thì phải ghép ngay miếng da vừa cắt vào chổ cũ sao cho chắc chắn sau khi lành mắt nhắm được bình thường.
5) Tổn thương ống tuyến lệ: gây hiện tượng chảy nước mắt thường xuyên. Có thể tổn thương ở nhiều mức độ:
- Nếu ống lệ bị chèn ép do sưng nề vùng mắt sau giải phẩu, thì sẽ trở lại bình thường khi hết sưng.
- Nếu ống lệ bị vặn xoắn co kéo trong quá trình giải phẫu gây tổn thương tắt nghẽn tạm thời thì có thể tự phục hồi hoặc phải tiến hành thông ống lệ để phục hồi chức năng.
- Trường hợp tổn thương gây tắc ống lệ vĩnh viễn thì rất hiếm gặp và nếu có thì cách giải quyết hết sức khó khăn và vượt khỏi phạm vi chuyên môn của giải phẫu thẫm mỹ.
6) Sẹo xấu: Nguyên nhân là do đường rạch da không đẹp, kỹ thuật may không tốt hoặc kĩ thuật tốt nhưng cơ địa bệnh nhân không thuận lợi trong quá trình lành sẹo. Bệnh nhân cũng phải chú ý giữ gìn thận trọng trong việc chăm sóc vết thương và bảo vệ sẹo khi mới lành, tránh ánh nắng mặt trời và bôi các thuốc chống sẹo, chống thâm.
VII. LỜI KHUYÊN:
1. Đây là kỹ thuật nhẹ nhàng, bệnh nhân có thể trở về ngay sau khi giải phẫu và sinh hoạt bình thường không cần phải nằm viện.
2. Lưu ý nên dung kem chống nắng trong 2-3 tháng đầu để sẹo đẹp và mờ dần.
3. Không nên mang kính áp tròng (contact lens) khi chưa lành hẳn để tránh phản ứng kích thích.
4. Có thể trang điểm (make-up) sau 1 tuần (sau khi cắt chỉ và vết mổ lành).
5. Xin nhắc lại rằng việc cắt bỏ da dư phải được tính toán bởi những bác sĩ giải phẫu có kinh nghiệm thành thạo để sau khi giải phẫu không bị thiếu da (mắt trợn) và phải có độ căng da hợp lý để sau khi lành gương mặt giữ được vẻ tự nhiên hài hoà với lứa tuổi.
6. Kỹ thuật này làm tốt cho cả nam và nữ giới.
Nguồn : ST.
|



